Các phương pháp phát hiện sớm dị tật thai

0
28
Đối với các bậc cha mẹ, trẻ sinh ra khỏe mạnh là niềm hạnh phúc vô bờ nhưng trên thực tế có những trẻ khi chào đời đã phải mang trên mình các dị tật bẩm sinh. Điều này không những gây ra nhiều thiệt thòi cho sức khỏe của trẻ cả về thể chất lẫn tinh thần mà còn là nỗi lo của cả gia đình và của toàn xã hội. Y học hiện đại có rất nhiều phương pháp phát hiện sớm dị tật bẩm sinh ở trẻ để giúp cha mẹ nhận biết sớm em bé bị bất thường hay không để có những hướng can thiệp sớm.

 

Ở nước ta hiện nay, tại các cơ sở điều trị sản khoa tuyến trung ương và một số bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh đã có thể thực hiện được các phương pháp thăm dò phát hiện dị tật thai trước đẻ sau đây:

 

Siêu âm

 

Sàng lọc bằng siêu âm ít nhất ba lần: Lần đầu: tuổi thai từ 11 – 13 tuần; Lần 2: tuổi thai từ 18 – 22 tuần; Lần 3: tuổi thai từ 28 – 32 tuần. Tốt hơn cả là dùng máy siêu âm ba chiều.

 

Với ba lần làm siêu âm chẩn đoán, có thể phát hiện hầu hết các dị tật bẩm sinh cả trong nội tạng và bên ngoài như tim bẩm sinh, hội chứng Down, đảo ngược phủ tạng, thoát vị cơ hoành, não úng thủy, thoát vị rốn, thoát vị bàng quang, sứt môi, tay chân khoèo, chi báo biển (do thalidomit). … giúp các thai phụ yên tâm hơn, có tâm lí tốt hơn khi sinh con.

 

Xét nghiệm máu

 

chuẩn đoán, dị tật trước sinh, xét nghiệm máu, siêu âm, chọc dò nước ối, sinh thiết gai rau, chọc dò cuống rốn

Ảnh minh họa: Nguồninternet

 

Xét nghiệm sinh hóa thai phụ nhằm đo nồng độ 1 số chất trong máu có thể giúp xác định nguy cơ bị dị tật thần kinh (vô sọ, hở đốt sống), hội chứng Down, nứt đốt sống, bất thường nhiễm sắc thể (tam bội thể 21 hoặc 18) và 1 số các rối loạn về di truyền. Có 2 xét nghiệm tầm soát phổ biến là Double Test được thực hiện ở quý 1 và Triple Test được làm vào quý 2 của thai kỳ.

 

Double test được thực hiện bằng cách đo lượng β-hCG tự do và PAPP-A trong máu thai phụ, sau đó kết hợp tính toán cùng với cân nặng, chiều cao của mẹ, tuổi thai, độ mờ da gáy và chiều dài đầu mông đo bằng siêu âm,… để đánh giá nguy cơ các hội chứng Down, Edwards hoặc Patau của thai từ 11 tuần đến 13 tuần tuổi.

 

Triple test được thực hiện từ tuần thứ 14 – 22 của thai kỳ, Triple test sử dụng máu mẹ để đo mức độ của 3 chất trong huyết thanh gồm AFP, hCG và Estriol. Nếu nồng độ AFP tăng gợi ý thai có nguy cơ bị dị tật ống thần kinh như cột sống chẻ đôi và vô sọ. Nồng độ AFP giảm nếu kết hợp với nồng độ hCG và estriol giảm thì thai có tăng nguy cơ bị hội chứng Down, Edwards hoặc bất thường nhiễm sắc thể.

 

Mặc dù vậy, để ước tính chính xác mức độ nguy cơ phải kết hợp kết quả xét nghiệm ba chất trên với nhiều yếu tố khác như tuổi mẹ, chủng tộc, cân nặng, chiều cao, tiền sử người mẹ như tiểu đường, hút thuốc, tình trạng thai như đơn thai hay song thai, tuổi thai vào thời điểm xét nghiệm, và tiền sử sản khoa.

 

Chọc dò ối

 

chuẩn đoán, dị tật trước sinh, xét nghiệm máu, siêu âm, chọc dò nước ối, sinh thiết gai rau, chọc dò cuống rốn

Ảnh minh họa: Nguồninternet

 

Chọc dò ối thường được chỉ định ở thai phụ trên 35 tuổi để ước lượng nguy cơ thai bị Down, hoặc với những trường hợp test sàng lọc huyết thanh dương tính, siêu âm phát hiện tăng khoảng sáng sau gáy, mẹ có tiền sử đẻ thai bất thường v.v… , thực hiện ở tuần thai 16 – 18.

 

Chọc dò ối có thể cho kết quả chẩn đoán các nguy cơ ở thai nhi như thai bị Down, bệnh lý hồng cầu, nhược cơ, xơ hoán nang, Tay – Sachs và  các bệnh tương tự. Chọc dò ối còn cho phép bác sĩ đo lường mức độ alpha-fetoprotein trong nước ối để xem xét liệu thai nhi có các vấn đề về não hay khuyết tật cột sống hay không. Kết quả từ chọc dò ối trong trường hợp này đáng tin cậy hơn so với xét nghiệm máu ở mẹ.

 

Dù độ chính xác ở chọc dò ối khá cao, khoảng 99,4%, nhưng đây là 1 xét nghiệm xâm lấn nên có thể ảnh hưởng đến mẹ và thai nhi. Theo thống kê, nguy cơ sẩy thai từ phương pháp này là khoảng 1/200 và có khoảng 1% bé sẽ bị khó thở sau khi chọc ối. Ngoài ra, một số thai phụ cũng cảm thấy đau nhức trong 1 – 2 giờ sau khi thực hiện thủ thuật này, khoảng 1 – 2 % chị em bị rò rỉ máu hoặc nước ối ở âm đạo…

 

Sinh thiết gai nhau (CVS)

 

Phương pháp sinh thiết gai rau là phương pháp lấy bệnh phẩm thai nhi bằng cách lấy các tế bào của các gai rau (Gai nhau, giống như ngón tay mọc ra từ bờ màng đệm, giống với thai nhi về mặt gien.) Phương pháp sinh thiết gai rau được tiến hành giữa tuần 10 – 12 của thai.

 

chuẩn đoán, dị tật trước sinh, xét nghiệm máu, siêu âm, chọc dò nước ối, sinh thiết gai rau, chọc dò cuống rốn

Ảnh minh họa: Nguồninternet

 

Gai nhau phát triển sớm trước khi có nước ối, vì thế xét nghiệm một mẫu nhau sẽ cho nhiều thông tin về bé trước khi chọc dò nước ối. Sinh thiết gai nhau có thể dùng để chẩn đoán thai nhi bị hội chứng Down, có bất thường về huyết sắc tố, bị bệnh hồng cầu liềm, bệnh thiếu máu vùng biển, bệnh do bất thường gien như xơ nang, bệnh ưa chảy máu, chứng co giật Huntington và teo cơ v.v…

 

Khi thai được khẳng định là bất thường thì can thiệp đình chỉ thai kỳ đơn giản hơn do tuổi thai còn nhỏ. Ngoài ra, CVS còn cho phép bác sĩ điều trị sớm cho thai nhi trước khi sinh, ví dụ thai phụ có thể dùng corticosteroid để ngăn chặn các đặc điểm nam tính phát triển trong bào thai nữ do rối loạn di truyền làm tuyến thượng thận mở rộng dẫn đến sản xuất quá nhiều hormone nam.

 

Chọc dò cuống rốn (lấy mẫu tĩnh mạch rốn)

 

Đây là phương pháp lấy máu tại dây rốn của thai nhi để xét nghiệm chẩn đoán trong các trường hợp nghi ngờ thai nhi bị thiếu máu, bị nhiễm bệnh sởi, toxoplasma, mụn rộp hoặc chậm phát triển. Nguy cơ xảy ra cho thai nhi khi thực hiện phương pháp này khá cao, từ 1 – 2%.

 

 

Từ những phương pháp trên các bà mẹ nên tham khảo để có hướng điều trị kịp thời, với một sức khỏe tốt, tinh thần tốt trước khi đón chào một sinh linh bé bỏng chào đời. Việc khám thai định kỳ cũng rất quan trọng vì đôi khi sự bất thường có thể xẩy ra ở bất cứ thời điểm nào trong thai kỳ chứ không nhất thiết là ở một thời điểm nào đó. 

 

Theo NTD

Các phương pháp phát hiện sớm dị tật thai

 

Theo NTD